Liên Kết ‘4 Nhà’, Gỡ Nút Thắt Vùng Dược Liệu
Thực tế tại xã Con Cuông cho thấy, khi mô hình liên kết “4 nhà” được triển khai với vai trò kết nối của hội nông dân, chuỗi giá trị dược liệu đang từng bước hình thành, mở ra hướng đi ổn định hơn cho người dân và doanh nghiệp.
Hình thành vùng dược liệu tập trung
.jpg)
Không thiếu tiềm năng, cũng không thiếu kỳ vọng, nhưng dược liệu Nghệ An nhiều năm vẫn loay hoay trong vòng luẩn quẩn: Sản xuất nhỏ lẻ, đầu ra bấp bênh, thiếu sự gắn kết giữa các chủ thể. Khi “nút thắt” liên kết chưa được tháo gỡ, “kho báu xanh” vẫn khó chuyển hóa thành giá trị kinh tế thực sự. Bài toán đặt ra không chỉ là mở rộng diện tích, mà là tổ chức lại sản xuất theo chuỗi, gắn kết chặt chẽ giữa người dân, doanh nghiệp và các bên liên quan.
Nghệ An được đánh giá là một trong những địa phương có nguồn tài nguyên dược liệu phong phú nhất cả nước, với gần 1.000 loài cây thuốc và nấm làm thuốc, chiếm khoảng 25% tổng số loài dược liệu của Việt Nam. Đặc biệt, khu vực Tây Nam Nghệ An, nơi hội tụ hệ sinh thái đa dạng – được ví như “kho báu xanh” với nhiều loài quý hiếm như sâm Puxailaileng, sâm 7 lá 1 hoa, hà thủ ô đỏ, lan kim tuyến, trà hoa vàng, đẳng sâm, nấm linh chi đỏ…
Không chỉ dừng lại ở trữ lượng phong phú, lợi thế của Nghệ An còn nằm ở điều kiện tự nhiên phù hợp để phát triển dược liệu dưới tán rừng, một hướng đi vừa tạo sinh kế, vừa góp phần bảo vệ rừng. Theo đánh giá của ngành Nông nghiệp, nhiều loại dược liệu cho hiệu quả kinh tế vượt trội so với cây trồng truyền thống như lúa, ngô hay keo, mở ra hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng bền vững cho vùng miền núi.

Trong bức tranh chung ấy, Pù Mát (xã Con Cuông) nổi lên như một điểm sáng. Nằm trong vùng đệm Vườn Quốc gia Pù Mát, nơi đây có khí hậu trong lành, đất đai giàu dinh dưỡng, phù hợp với nhiều loài thảo dược có giá trị cao. Những năm gần đây, các mô hình trồng dược liệu tại đây không chỉ dừng ở quy mô nhỏ lẻ mà đã từng bước hình thành vùng nguyên liệu tập trung, gắn với chế biến và tiêu thụ.
Tiêu biểu là Công ty CP Dược liệu Pù Mát, đơn vị đã phát triển vùng trồng dược liệu quy mô 23 ha, trong đó phần lớn diện tích được liên kết với người dân địa phương. Các loại cây chủ lực gồm cà gai leo, dây thìa canh, giảo cổ lam, mướp đắng rừng… cho sản lượng hơn 1.000 tấn mỗi năm.
Điểm đáng chú ý là sản xuất dược liệu tại khu vực Con Cuông không còn manh mún mà đang từng bước hình thành vùng nguyên liệu tập trung, gắn với liên kết giữa người dân và các đơn vị thu mua, chế biến. Thông qua việc hỗ trợ giống, chuyển giao kỹ thuật, tổ chức thu mua và định hướng sơ chế, chế biến, hoạt động trồng dược liệu đã dần đi vào chuỗi giá trị, tạo đầu ra ổn định cho sản phẩm. Từ đó, nhiều sản phẩm dược liệu của địa phương được chuẩn hóa, tham gia Chương trình OCOP và mở rộng thị trường tiêu thụ.

Hiệu quả kinh tế bước đầu được ghi nhận khi người dân chuyển đổi từ cây trồng truyền thống sang cây dược liệu. Với diện tích không lớn, thời gian thu hoạch ngắn, nhiều hộ đã có nguồn thu ổn định, cao hơn trước.
Tại một số xã vùng đệm, hàng trăm hộ dân tham gia liên kết sản xuất, từng bước nâng cao thu nhập, góp phần tạo sinh kế bền vững và giảm áp lực khai thác tài nguyên rừng. Không chỉ mang lại lợi ích kinh tế, việc phát triển dược liệu còn giúp hạn chế tình trạng khai thác lâm sản tự nhiên, phù hợp với chủ trương phát triển kinh tế dưới tán rừng mà Nghị quyết số 39 của Bộ Chính trị đã đề ra.

